Sinh học tổng hợp là ‘chip bán dẫn’ của nông nghiệp Việt Nam

GS.TS Nguyễn Thị Lan đề xuất phát triển sinh học tổng hợp như ‘chip bán dẫn’, giúp nông nghiệp Việt Nam làm chủ công nghệ lõi, giảm nhập khẩu, nâng cao giá trị nông sản.

Chiều 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách Nhà nước và kế hoạch đầu tư công.

 Chiều 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách Nhà nước và kế hoạch đầu tư công. Ảnh: Như Ý.

Phát biểu tại hội trường, GS.TS Nguyễn Thị Lan, đại biểu Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội, nhấn mạnh yêu cầu làm chủ công nghệ lõi để tạo động lực mới cho nông nghiệp Việt Nam. Theo đại biểu, một trong những hướng đi chiến lược là phát triển công nghệ sinh học tổng hợp (Synthetic Biology), được ví như “chip bán dẫn” của nền nông nghiệp tương lai.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan cơ bản thống nhất và đánh giá cao báo cáo của Chính phủ về tình hình phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 và kế hoạch năm 2027. Trong đó, tăng trưởng GDP 9 tháng đạt trên 9%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 56 tỷ USD trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động là những kết quả đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, để giữ vững đà tăng trưởng và tạo bước bứt phá cho nông nghiệp, đại biểu cho rằng cần nhìn nhận thẳng thắn những điểm nghẽn đang cản trở khả năng tự chủ của ngành.

Nông nghiệp cần chuyển từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi

Theo GS.TS Nguyễn Thị Lan, nông nghiệp Việt Nam đã bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, đồng thời tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế. Dù vậy, ngành vẫn đang đối mặt với sự phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu và công nghệ từ bên ngoài.

Cụ thể, Việt Nam hiện phụ thuộc 60-70% nguồn đạm và phụ gia thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Nhiều loại giống chất lượng cao, enzyme và chế phẩm phục vụ chế biến sâu cũng phải nhập khẩu.

Đây là điểm nghẽn có ý nghĩa chiến lược, bởi theo đại biểu, thước đo phát triển của nông nghiệp trong giai đoạn tới không thể chỉ là quy mô sản lượng mà phải được đánh giá bằng mức độ làm chủ công nghệ lõi.

Chỉ khi chủ động được chuỗi cung ứng đầu vào, Việt Nam mới có thể giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nước, đồng thời củng cố vị thế và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường.

Từ góc nhìn đó, đại biểu Nguyễn Thị Lan xác định công nghệ sinh học tổng hợp là chìa khóa có thể tạo ra bước chuyển quan trọng cho nông nghiệp Việt Nam.

Nếu chip bán dẫn là nền tảng cốt lõi của ngành điện tử thì sinh học tổng hợp có thể được xem là công nghệ nền tảng của nền nông nghiệp tương lai. Công nghệ này cho phép lập trình tế bào sống thành những “nhà máy siêu vi”, qua đó sản xuất chính xác nguồn đạm sinh học, enzyme, vaccine và các chế phẩm có khả năng thay thế hóa chất độc hại.

Đại biểu cho biết, trên thế giới, sinh học tổng hợp đã trở thành ngành công nghiệp có quy mô hàng trăm tỷ USD, được Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu xác định là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, ngang hàng với trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ bán dẫn.

Đáng chú ý, Trung Quốc đã ứng dụng nấm men để chuyển hóa methanol thành nguồn đạm ở quy mô công nghiệp, góp phần giải quyết bài toán thức ăn chăn nuôi.

GS.TS. Nguyễn Thị Lan, đại biểu Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội, nhấn mạnh yêu cầu làm chủ công nghệ lõi để tạo động lực mới cho nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: Quochoi.vn.

Theo đại biểu, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026, đưa công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, là định hướng đúng đắn và kịp thời. Đây cũng là cơ sở quan trọng để nông nghiệp từng bước chủ động nguồn giống, thức ăn chăn nuôi, kiểm soát dịch bệnh từ gốc, xanh hóa sản xuất và giảm phụ thuộc vào mô hình gia công có giá trị thấp.

Bốn nhóm giải pháp để làm chủ công nghệ sinh học tổng hợp

Để đưa công nghệ sinh học tổng hợp vào thực tiễn sản xuất, GS.TS Nguyễn Thị Lan kiến nghị Chính phủ tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá.

Trước hết, cần sớm ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các sản phẩm sinh học nông nghiệp mới. Theo đại biểu, cần thiết lập quy trình liên thông từ khâu thử nghiệm tại các viện, trường đủ điều kiện đến cấp phép lưu hành sản phẩm. Việc cắt giảm tối đa các rào cản thủ tục cần đi đôi với kiểm soát nghiêm ngặt, minh bạch về an toàn sinh học.

Giải pháp thứ hai là tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, tài chính và quản lý tài sản công nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp spin-off trong các trường đại học. Đại biểu đề nghị sớm có hướng dẫn cụ thể về định giá và góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học; thí điểm cơ chế vốn mồi, đồng tài trợ cùng doanh nghiệp trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm (pilot).

Đồng thời, cần thực thi thực chất nguyên tắc chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học theo quy định của pháp luật, tạo điểm tựa niềm tin để các nhà khoa học mạnh dạn tham gia giải quyết những bài toán công nghệ khó.

Để đưa công nghệ sinh học tổng hợp vào thực tiễn sản xuất, GS.TS Nguyễn Thị Lan kiến nghị Chính phủ tập trung triển khai 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá. Ảnh: Như Ý.

Thứ ba, cần quy hoạch và đầu tư hạ tầng nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm dùng chung. Theo đó, nguồn lực cần được tập trung đầu tư có trọng tâm vào các phòng thí nghiệm hiện đại và hệ thống sản xuất thử nghiệm tại những viện nghiên cứu, trường đại học trọng điểm. Các hạ tầng này cần vận hành theo cơ chế mở, tạo điều kiện kết nối chặt chẽ giữa viện, trường và doanh nghiệp.

Cách làm này không chỉ nâng cao hiệu quả khai thác tài sản công mà còn góp phần tránh đầu tư dàn trải, lãng phí ngân sách.

Thứ tư, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, có khả năng dẫn dắt và làm chủ công nghệ sinh học tổng hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan cho rằng con người là yếu tố quyết định tạo nên những đột phá về công nghệ. Vì vậy, Chính phủ cần đặt hàng đào tạo chuyên sâu về công nghệ sinh học tiên tiến và sinh học tổng hợp, gắn với những bài toán thực tiễn của doanh nghiệp.

Trọng tâm là xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành có khả năng làm chủ công nghệ lõi, cùng lực lượng quản lý và tư vấn khoa học đủ năng lực dẫn dắt, kết nối chuỗi giá trị. Cùng với đó là những chính sách đãi ngộ đặc thù để thu hút và giữ chân các chuyên gia giỏi.

Xuất khẩu công nghệ nông nghiệp thay vì chỉ xuất khẩu nông sản

Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình phát triển nông nghiệp, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng, sau 40 năm đổi mới, đã đến lúc nông nghiệp Việt Nam cần tạo ra bước chuyển căn bản: từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi.

Các ĐBQH tham dự phiên họp vào chiều 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: Như Ý.

Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mà còn là con đường để gia tăng giá trị giữ lại trong nước, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài và nâng cao vị thế nông nghiệp Việt Nam.

Theo đại biểu, mục tiêu dài hạn không nên chỉ dừng ở xuất khẩu nông sản mà cần từng bước tiến tới xuất khẩu công nghệ nông nghiệp. Đó là hướng đi bền vững để nông nghiệp Việt Nam chuyển mình, khẳng định vị thế đất nước bằng tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ những công nghệ nền tảng.

Trong phiên họp chiều 30/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận ở hội trường về các nội dung chính sau:

(1) Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2027.

(2) Tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027.

(3) Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025.

(4) Việc tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội và kết thúc đầu tư xây dựng dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.

Cũng tại phiên họp, thành viên Chính phủ giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Khương Trung

https://nongnghiepmoitruong.vn/